Ý nghĩa tên gọi các tuyến đường, tuyến phố trên địa bàn Thị trấn Cẩm Khê



Huyện Cẩm Khê được phê duyệt Ngân hàng tên đường, phố gồm 100 tên đường, phố. Trong đó:
  • Danh nhân thời kỳ Hùng Vương và Hai Bà Trưng: 12 tên;
  • Danh nhân thời kỳ sau Hai Bà Trưng đến trước năm 1958: 21 tên;
  • Danh nhân thời kỳ từ 1958 đến nay: 21 tên;
  • Danh nhân của tỉnh Phú Thọ:11 tên;
  • Danh nhân của huyện Cẩm Khê:15 tên;
  • Địa danh tên gọi cũ trên địa bàn huyện Cẩm Khê: 14 tên;
  • Sự kiện lịch sử, văn hóa: 06 tên.

1. Đường Hoa Khê.
- Tuyến giao thông từ giáp ranh xã Sai Nga (đường rặng nhãn cũ - Công ty TNHH Sơn Hải) đến giáp ranh xã Phú Khê (nhà ông bà Ngư - Bốn). Đường đôi, trục chính thị trấn.

- Ý nghĩa tên gọi: Hoa Khê là tên của huyện Cẩm Khê vào cuối thời Lê đầu thời Nguyễn (thuộc phủ Lâm Thao, trấn Sơn Tây). Đến năm Thiệu Trị thứ nhất (1841) huyện Hoa Khê được đổi tên thành huyện Cẩm Khê.

2. Đường Sông Thao.
- Tuyến giao thông từ giáp ranh xã Sai Nga (ngã ba Đảo Ngọc) đến giáp ranh xã Phú Khê (nhà ông bà Quang-Điểm). Quốc lộ 32C.

- Ý nghĩa tên gọi: Sông Thao là tên gọi của đoạn sông Hồng từ Lào Cai đến ngã ba Hạc-Việt Trì (sông Hồng bắt nguồn từ Trung Quốc, vào Việt Nam ở tỉnh Lào Cai, chảy qua thị trấn Sông Thao đến ngã ba Hạc ở Việt Trì, tỉnh Phú Thọ thì hợp lưu với sông Đà và sông Lô). Sông Thao còn là tên gọi cũ của huyện Cẩm Khê (giai đoạn 1977-2002).

3. Đường Đông Phú. 
- Tuyến giao thông từ giáp ranh xã Thanh Nga (nhà ông bà Khanh - Hải) đến Đường vành đai (bến xe khách huyện). Đường tỉnh 313 nối lên đường vành đai.

- Ý nghĩa tên gọi: Đông Phú là tên gọi cũ của Thị trấn Sông Thao ngày nay.

5. Đường Đông Viên.
- Tuyến giao thông từ ngã ba đường vành đai (nhà ông bà Thanh - Thọ) đến đường QL 32C (lối ra bến đò Chí Chủ). Đường vành đai đi qua làng Đông Viên.

- Ý nghĩa tên gọi: Đông Viên là tên một làng cổ thuộc xã Đông Phú (Thị trấn Sông Thao ngày nay).

5. Đường Bình Phú.
- Tuyến giao thông từ ngã ba Cây xăng số 39 (đường đi bến đò) đến ngã ba Thủy Nông, chạy dọc làng Bình Phú.

- Ý nghĩa tên gọi: Bình Phú là tên một làng cổ thuộc xã Đông Phú (Thị trấn Sông Thao ngày nay).

6. Đường Vực Câu.
- Tuyến giao thông từ QL32C (ngã 3 Cống Câu, nhà ông bà Đông-Toản) đến đường đi xã Thanh Nga (nhà Văn hóa khu 1).

- Ý nghĩa tên gọi: Vực Câu là tên một làng cổ thuộc xã Đông Phú (Thị trấn Sông Thao ngày nay).

7. Phố Ngô Quang Bích. 
- Tuyến giao thông từ đường tỉnh 313 (nhà ông bà Thanh - Hương) đến giáp ranh xã Phú Khê (nhà bà Rõ).

- Ý nghĩa tên gọi: Ngô Quang Bích hay Nguyễn Quang Bích (1832-1890), người Thái Bình. Ông đỗ Tiến sĩ năm 1869, được bổ làm Tri phủ Diên Khánh (Khánh Hòa), Án sát Sơn Tây và Bình Định; năm 1875 được bổ làm Chánh sứ sơn phòng Hưng Hóa; năm 1876 kiêm luôn chức Tuần phủ Hưng Hóa. Ông đã chỉ huy nghĩa quân chống Pháp xâm lược. Ông được thờ tại di tích lịch sử Quốc gia - Đền Tiên Động xã Tiên Lương (huyện Cẩm Khê) và nhiều làng khác ven sông Hồng.

8. Phố Đương Cảnh.
- Tuyến giao thông từ đường trục chính Thị trấn (Hạt Kiểm lâm Cẩm Khê) đến giáp ranh xã Phú Khê (nhà ông bà Minh-Hòa).

- Ý nghĩa tên gọi: Đương Cảnh là người làng Phùng Xá (huyện Cẩm Khê), ông có công dẹp giặc Tống và giành thắng lợi vào thời vua Lý Nhân Tông, thế kỷ thứ XII. Ông được nhân dân thờ phụng tại di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh - Đình Cả xã Phùng Xá .

9. Phố Đề Kiều. 
- Tuyến giao thông từ đường trục chính Thị trấn (nhà nghỉ Vĩnh Cát) đến giáp ranh xã Phú Khê (nhà bà Rõ).

- Ý nghĩa tên gọi: Đề Kiều tên thật là Hoàng Văn Thúy (1855-1915), quê gốc ở Hoàng Mai (Hà Nội), ông thuộc dòng dõi Công hầu (Thủy tổ là cụ Hoàng Đắc Lộc lên khai hoang lập ấp ở xã Cát Trù). Tháng 4/1884, khi Pháp đánh thành Hưng Hóa, Đề Kiều là một trong những thuộc tướng chiến đấu bên cạnh Ngô Quang Bích. Chính Đề Kiều đã đưa Ngô Quang Bích cùng tướng sỹ về Cẩm Khê là lãnh địa của mình để xây dựng căn cứ chống Pháp lâu dài. Ông được Ngô Quang Bích phong chức Đề đốc. Ông được thờ tại di tích lịch sử văn hóa Quốc gia - Đền Tiên Động xã Tiên Lương và nhiều làng ven sông Hồng.

10- Phố Đặng Ngọc Ky. 
- Tuyến giao thông từ đường trục chính Thị trấn (nhà ông bà Sơn-Vân, đối diện Huyện uỷ) đến nhà ông bà Trọng-Hường.

- Ý nghĩa tên gọi: Đặng Ngọc Ky (1900-1979) là người làng Thạch Đê (xã Hiền Đa), ông là 1 trong 4 đảng viên đầu tiên của chi bộ Đọi Đèn, giữ chức Bí thư chi bộ Đọi Đèn giai đoạn 1945-1946 (tiền thân của Đảng bộ huyện Cẩm Khê ngày nay).

11. Phố Khai Cơ. 
- Tuyến giao thông từ đường trục chính Thị trấn (Ban chỉ huy Quân sự huyện) đến nhà ông bà Cương - Hà.

- Ý nghĩa tên gọi: Khai Cơ là người có công giúp vua Hùng dẹp giặc, bảo vệ bờ cõi đất nước. Khai Cơ được thờ tại di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh- Đình Hạ Khê, xã Phương Xá.

12. Phố Bút Tre. 
- Tuyến giao thông từ đường trục chính Thị trấn (trường THPT Cẩm Khê) đến nhà ông bà Thông - Thục.

- Ý nghĩa tên gọi: Bút tre tên thật là Đặng Văn Đăng (1911-1987) quê ở xã Đồng Lương, huyện Cẩm Khê, là người sáng tạo ra dòng thơ dân gian Bút Tre. Thơ ông góp phần làm bật lên những tiếng cười sảng khoái, lạc quan, yêu đời. Ông là nhà văn hóa, văn nghệ dân gian Việt Nam nổi tiếng của Đất Tổ; nguyên Trưởng ty văn hóa Phú Thọ, Uỷ viên BCH Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam khóa I.

13-Phố Hà Lang. 
- Tuyến giao thông từ Quốc lộ 32C (Hiệu ảnh Yến Đô) đến nhà ông bà Ngữ - Trạm.

- Ý nghĩa tên gọi: Hà Lang (hay còn gọi là Hà Lang Công) sinh ra ở làng Thạch Đê (xã Hiền Đa ngày nay), là quan triều Trần, thuộc hạ của Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn. Ông có công đánh đuổi quân Nguyên, phòng ngự Lô Giang, Đà Giang, Thao Giang. Ông được vua Trần phong là Hùng Dũng Đại vương và được nhân dân thờ tại Di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh- Đình Ba Nóc xã Hiền Đa.

14- Phố Đốc Ngữ. Tuyến giao thông từ chợ trung tâm Thị trấn (nhà hàng Quân – Hợp) đến đường Đông Viên (BHXH huyện).

+ Ý nghĩa tên gọi: Nguyễn Đức Ngữ tên thường gọi là Đốc Ngữ, quê ở xã Xuân Phú, huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội. Ông là Đốc quân của Tuần phủ Hưng Hóa Ngô Quang Bích và Bố chánh Sơn Tây Nguyễn Văn Giáp. Sau khi Ngô Quang Bích mất, Đốc Ngữ đem quân đến vùng Thanh Sơn (Phú Thọ) lập căn cứ riêng, liên kết với Đề Kiều ở Cẩm Khê chống Pháp.

15. Phố Muôn Khê. 
- Tuyến giao thông từ đường trục chính Thị trấn Sông Thao (chùa Linh Quang) đến đường đi xã Thanh Nga (nhà ông bà Dũng - Huệ).

- Ý nghĩa tên gọi: Muôn Khê (anh em sinh đôi với Đương Cảnh) là người làng Phùng Xá ( huyện Cẩm Khê) . Ông cùng với Đương Cảnh dẹp giặc Tống và giành thắng lợi vào thời vua Lý Nhân Tông, thế kỷ thứ XII. Ông được nhân dân thờ phụng tại di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh - Đình Cả xã Phùng Xá .

16. Phố Nguyễn Danh Nho. 
- Tuyến giao thông từ đường tỉnh 313 (Quỹ tín dụng Nhân dân) đến nhà ông bà Hải - Được.

- Ý nghĩa tên gọi: Nguyễn Danh Nho là người trang Áo Lộc (xã Tuy Lộc), thi đỗ tiến sĩ năm 1670 và được phong chức Lại Bộ Tả Thị Lang Nhập Thị Kình Diên (chuyên bổ nhiệm các chức quan trong triều đình), ông được nhân dân lập đền thờ tại di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh - Đình Hội xã Tuy Lộc.

17. Phố Quế Hoa.
- Tuyến giao thông từ đường tỉnh 313 (nhà ông bà Phúc-Phương) đến giáp ranh xã Thanh Nga (qua Trung tâm GDNN-GDTX).

- Ý nghĩa tên gọi: Quế Hoa hay còn gọi là Quế Hoa công chúa là vợ của Khai Cơ (tướng lĩnh của Hùng Duệ Vương). Bà cùng với chồng mình có công giúp dân Hạ Khê lập ấp, khai điền, bảo vệ nhân dân trong chiến tranh và được nhân dân lập đền thờ tại di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh - Đình Hạ Khê, xã Phương Xá, Cẩm Khê.

18. Phố Lương Khánh Thiện.
- Tuyến giao thông từ trường Mầm non Hoa Hồng đến đường vành đai (Lò gạch Quyết Thắng).

- Ý nghĩa tên gọi: Lương Khánh Thiện (1903-1941) quê ở thôn Mễ Tràng, xã Liêm Chính, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam. Ông từng tham gia phong trào đấu tranh đòi ân xá cho Phan Bội Châu, là đảng viên Đảng cộng sản Đông Dương. Ông từng giữ chức Bí thư Xứ ủy Bắc kỳ, Bí thư thành ủy Hà Nội, Bí thư thành ủy Hải Phòng, người thành lập và lãnh đạo chi bộ Cát Trù -Thạch Đê những năm 1939-1940.

19. Phố Nguyễn Phiên.
- Tuyến giao thông từ đường vành đai (nhà ông bà Minh-Khanh) đến nhà ông bà Huệ-Hà (gần cổng trường Tiểu học Thị trấn).

- Ý nghĩa tên gọi: Nguyễn Phiên (1900-1989), là thủ lĩnh căn cứ du kích Vạn Thắng, lãnh đạo phong trào kháng chiến chống Pháp, góp phần cùng các lực lượng vũ trang và nhân dân giành chính quyền ở tỉnh Phú Thọ tháng 8/1945.


Phòng Văn hóa và thông tin Cẩm Khê

Đăng nhận xét

0 Nhận xét